Romário – Quái kiệt độc nhất của bóng đá thế giới

180

Bằng cách nào chúng ta có thể định nghĩa một chân sút thực sự là vĩ đại? Khả năng tận dụng cơ hội không một chút sai sót? Kỹ thuật điêu luyện cộng với những pha di chuyển sắc sảo? Hay đó là khả năng tạo ra khoảnh khắc kỳ diệu trong những tình huống quan trọng nhất? Nếu một trong số đó, hoặc tất cả, được dùng để định danh thì Romário của Brazil chắc chắn phải là cái tên đầu tiên được nhắc đến trong bất kỳ cuộc tranh luận nào. Ông sống một cuộc đời phóng túng, bản năng nhưng cũng gặt hái thành công trên sân và sau khi giải nghệ, “quỷ lùn” Romário là mẫu cầu thủ không dễ tìm của thế giới. Brazil có vua bóng đá Pele, “người ngoài hành tinh” Ronaldo de Lima hay một Neymar từng phá kỷ lục chuyển nhượng mọi thời đại. Tuy nhiên, Romário là một cá tính hoàn toàn khác, một mẫu cầu thủ độc nhất vô nhị ngoài đời.

1. Sự nghiệp qua những con số

Cá nhân
  • Vua phá lưới giải vô địch U20 Nam Mỹ: 1985
  • Vua phá lưới của Campeonato Carioca: 1986, 1987, 1996, 1997, 1998, 1999, 2000
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Vasco da Gama: 1987, 1988, 2000, 2001
  • Vua phá lưới Olympic mùa hè Seoul: 1988
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Dutch League: 1988-89, 1989-90, 1990-91
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Hà Lan: 1988-89, 1989-90
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của UEFA Champions League: 1989-90, 1992-93
  • Giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của FIFA: 1993, 1994
  • Quả bóng vàng FIFA World Cup: 1994
  • Chiếc giày vàng FIFA Confederations Cup: 1997
  • Quả bóng bạc FIFA Confederations Cup: 1997
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của giải đấu Rio-São Paulo: 1997, 2000
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Brazil Cup: 1998, 1999
  • Cầu thủ ghi bàn hàng đầu của Copa Mercosur: 1999, 2000
  • Quả bóng đồng FIFA World Cup: 2000
  • Giải thưởng Huyền thoại chân vàng: 2007
Vasco da Gama
  • Campeonato Carioca: 1987, 1988
  • Campeonato Brasileiro Série A: 2000
  • Copa Mercosur: 2000
PSV Eindhoven
  • Eredivisie: 1988-89, 1990-91, 1991-92
  • Cúp KNVB: 1988-89, 1989-90
  • Siêu cúp Hà Lan: 1992
Barcelona
  • La Liga: 1993-94
Flamengo
  • Campeonato Carioca: 1996, 1999
  • Copa Mercosur: 1999
Al-Sadd
  • Qatar Crown Prince Cup: 2003
América-RJ
  • Campeonato Carioca Second Division: 2009
Brazil
  • Giải vô địch U20 Nam Mỹ: 1985
  • Huy chương bạc Olympic: 1988
  • Cúp vàng Úc bicentenary: 1988
  • Copa América: 1989, 1997
  • World Cup FIFA: 1994
  • Cúp Liên đoàn FIFA: 1997

2. Tiểu sử

Romário de Souza Faria hay Romário sinh 29 tháng 1 năm 1966, là một cựu cầu thủ bóng đá Brazil. Ông đã giúp ĐTQG chiến thắng, giành ngôi vô địch thế giới World Cup 1994 và là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất trên thế giới trong thập niên 1990. Ông cũng gặt hái nhiều thành công với các CLB bóng đá châu Âu như PSV Eindhoven và FC Barcelona, hay Vasco da Gama ở Brazil. Ông cũng là cầu thủ ghi bàn cao thứ 3 trong lịch sử đội bóng đá Brazil, cũng là người ghi bàn nhiều thứ hai trong mọi thời đại ở Campeonato Brasileiro Série A.

3. Sự nghiệp CLB

  • Sự nghiệp sớm

Sinh ra tại khu ổ chuột Rio de Janeiro, Romário cũng như bao đứa trẻ khác trưởng thành từ bóng đá đường phố. Ông gia nhập Olaria ở tuổi 13 và ngay lập tức gây được sự chú ý. Dù vóc dáng nhỏ bé nhưng chàng tiền đạo trẻ khi ấy đã sử dụng trọng tâm thấp cùng đôi chân ngắn nhưng rất khỏe để làm lợi thế cho mình vượt qua đối thủ trước khi họ có thể trở tay. Sở hữu khả năng kiểm soát bóng bậc thầy qua những trận đấu gồm 30 người một đội ở trong những “khu rừng bê tông” cho tới những bãi biển cát trắng, cầu thủ người Brazil ấy thực sự là một cơn ác mộng với các hậu vệ. Chính vì vậy vào năm 1985, Romário có suất khoác áo đội một Vasco da Gama và giành chức vô địch bang Carioca năm 1987, 1988.

  • PVS Eindhoven

Nhờ phong độ thi đấu tuyệt vời đã tạo nên một bước đột phá để ông vượt Đại Tây Dương và tới Hà Lan thi đấu cho PSV. De Rood-Witten, và có lẽ là cả Hà Lan, lúc này đang ở đỉnh cao sức mạnh của mình. HLV Guus Hiddink giúp đội bóng thành phố Eindhoven giành cú ăn ba trong khi Oranje cũng giành chức vô địch Euro năm 1988. Romário trở thành một ngôi sao sáng, một trong những cầu thủ Brazil đầu tiên tạo nên tiếng tăm vang dội khi chuyển đến châu Âu và không lâu sau đó ông đã mang bầu không khí carnival ở quê hương mình tới Hà Lan, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong mùa giải đầu tiên, Romário đã ghi được 19 bàn ở Eredivisie và giúp PSV bảo vệ thành công danh hiệu quốc nội. 4 mùa giải tiếp theo mang đến cho ông thêm 2 danh hiệu Eredivisie và hiệu suất bàn thắng đáng kinh ngạc: 127 pha lập công trong 142 trận.

  • Barcelona

Thế nhưng, với một thiên tài như ông, khi được Barcelona gọi thì đó không phải là điều bất ngờ. Johan Cruyff đang xây dựng một triều đại ở Tây Ban Nha và với Romário, vị cha già của bóng đá hiện đại đã có một vị ngọc quý trong tay. Đời sống sang trọng ở Catalonia hoàn toàn khác xa so với Jacarezinho, thế nhưng Romário chưa bao giờ bị định hình bởi môi trường xung quanh mình. Thay vào đó, ông tạo ra môi trường chứ không phải trở thành sản phẩm của một cái gì đó.

Đáng tiếc, quãng thời gian của ông tại đây lại chỉ kéo dài hơn 1 mùa giải vì những bất đồng mang tính hệ thống với Cruyff về cách cư xử và tập luyện. Dù vậy, trong khoảng thời gian này những màn trình diễn của ông không có quá nhiều khác biệt. Suốt 18 tháng, ông ghi được 39 bàn – trong đó bao gồm 1 cú hat-trick trong trận El Clásico – và 1 danh hiệu vô địch quốc gia.

Tại Champions League cũng không khác là bao. Ông cùng với Hristo Stoichkov tạo thành cặp đôi hủy diệt nhảy múa trong vòng vây đối thủ, biến những hậu vệ đẳng cấp thế giới trở thành những kẻ bình thường. Blaugrana chỉ còn thiếu một điều cuối cùng để mọi thứ trở nên hoàn hảo thì trận chung kết năm 1994, đoàn quân mang tên AC Milan của Fabio Capello đã phá hỏng tất cả. Nhiều người cho rằng Barcelona đã quá tự mãn và đến Athens vào đêm đó đơn giản nghĩ rằng họ đã có được danh hiệu thay vì quyết đấu để giành lấy nó. Lối sống có phần phóng túng của Romário dường như có phần không hợp với một người kỷ luật như Cruyff và ông quyết định trở về quê hương.

  • Những năm cuối sự nghiệp

Ông trở về với quê hương trong ngày tháng đỉnh cao nhất sự nghiệp và quay lại Châu Âu đúng 1 năm trong màu áo Valencia. Romário mặc kệ nỗi luyến tiếc chưa giành chức vô địch Champions League mà chỉ muốn chìm đắm trong tình yêu mà các CĐV Brazil dành cho mình.

Ngoài ra, ông giành danh hiệu vua phá lưới Brasileirão Série A lần thứ 3 ở tuổi 39, giúp Miami FC vào vòng play-off USL-1 lần đầu tiên trong lịch sử và tất nhiên ghi bàn thắng thứ 1000 trong sự nghiệp cho Vasco yêu dấu. Dù cột mốc đó vẫn còn những tranh cãi vì người ta cho rằng nó bao gồm cả những trận đấu ở giải trẻ và các trận không chính thức, thế nhưng di sản vĩnh cửu mà Romário thì là điều chẳng cần phải bàn cãi.

4. Sự nghiệp quốc tế

Romário đã giành huy chương bạc Olympic tại Seoul năm 1988, kết thúc với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu với 7 bàn thắng trong 6 trận đấu. Ông là một trong những ngôi sao được nhắc đến nhiều nhất trước World Cup 1990 ở Ý, nhưng không may ông đã dính chấn thương nghiêm trọng ba tháng trước khi trận đấu bắt đầu. Romário chỉ chơi được 66 phút trong trận đấu trước Scotland và cuối cùng Brazil đã bị loại ở vòng 1/16 trước đối thủ Argentina.

Năm 1992, trong mùa giải thành công của Romário tại PSV Eindhoven, ông được gọi vào đội tuyển trong trận giao hữu với Đức vào ngày 16 tháng 12 năm 1992 tại Porto Alegre. Brazil đã chơi bảy trận đầu tiên của vòng loại World Cup 1994 mà không có Romário, và chịu thua ngay trận đầu tiên tại vòng loại trước Bolivia.

Mùa hè năm 1994 đánh dấu đỉnh cao của ông. Lúc bấy giờ đã khẳng định một vị trí tại ĐTQG mà tiếng Brazil gọi là một “craque” – cầu thủ ngôi sao – được theo dõi ông tung hoành trên sân suốt kỳ World Cup năm ấy có thể xem là một điều tuyệt vời nhất. Ông mở tỷ số trong chiến thắng 3-2 ở vòng tứ kết trước Hà Lan và giữ vững bản lĩnh trên chấm luân lưu ở trận chung kết trước người Ý. Chẳng có giới hạn nào cho người nghệ sĩ ấy, ông đưa Brazil giành chức vô địch thế giới lần thứ tư và sau đó ẵm luôn giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.

Các năm 1998 và 1999, ông thi đấu bùng nổ với tổng cộng 81 bàn thắng. Cả thế giới được chứng kiến một Baixinho mạnh mẽ như suốt quãng thời gian ở châu Âu. Ông cũng tạo nên một cặp Ro-Ro mang tính biểu tượng. Một Ronaldo trẻ trung bắt cặp cùng Romário kinh nghiệm, cả hai thi đấu bùng nổ trên sân khi đưa Brazil đến chức vô địch Copa América 1997 và vượt qua vòng loại World Cup 1998 tại Pháp.

Thế nhưng chấn thương cơ đã lấy đi kỳ World Cup thứ hai của Romário dù ông đã phủ nhận thông tin cho rằng mình không đủ thể lực để thi đấu tại kỳ đại hội bóng đá lớn nhất hành tinh cuối cùng của mình. Thời điểm vòng chung kết World Cup 2002 diễn ra, sự quan tâm của đất nước với đội tuyển tại giải đấu thực sự bùng nổ. Thay vì tạo ra một cuộc tranh cãi, HLV Luiz Felipe Scolari khẳng định rằng sự vắng mặt của ông trong đội hình là vì “lý do kỹ chiến thuật”.

Con chim quý khi đó đã 34 tuổi bị từ chối cơ hội được cất tiếng hót thật hay lần cuối cùng. Một chiến dịch đã được khởi xướng – thậm chí được tổng thống Brazil thời điểm đó Fernando Henrique Cardoso ủng hộ – để khiến HLV Scolari cân nhắc lại. Thế nhưng chẳng có ích gì cả. Romário bất đắc dĩ phải chấp nhận quyết định của huấn luyện viên nhưng đồng thời biết được những sự ủng hộ mà mình nhận được. Tình cảm mà ông tạo ra với người Brazil là quá lớn.

5. Lời kết

Được Cruyff miêu tả là “cầu thủ xuất sắc nhất từng dẫn dắt” và “một thiên tài trong vòng cấm địa”, không còn gì để nghi ngờ nữa về những dấu ấn mà “Quỷ lùn” tạo ra. Tự tin, ngay thẳng và oai phong lẫm liệt, cho đến ngày nay Romário vẫn là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất của thế giới bóng đá. Ông là người tiên phong trong việc ra nước ngoài thi đấu của các cầu thủ Brazil về sau này và chinh phục thế giới bằng một cá tính tự nhiên cùng đôi chân siêu phàm.

Thành công chói lọi đã đưa ông vào trong những câu chuyện bóng đá. Thế nhưng với người Brazil, ông còn hơn cả một siêu sao tầm cỡ toàn cầu. Romário là cầu thủ của mọi người, mọi nhà. Ông sống trong giấc mơ của mọi đứa trẻ khi nghĩ đến Jacarezinho. Ông là sự kết hợp của một kẻ bình thường và một người được tôn vinh như một vị thánh, tất cả lại càng làm củng cố hình tượng của một á thần nơi Romário.