Oliver Kahn – Vị Titan của “Cỗ xe tăng”

178

Ngày trước, bóng đá thế giới có Lev Yashin, Dino Zoff, Gordon Banks – những con người đã đi vào huyền thoại và sau này Oliver Kahn cũng nối bước họ để bước vào Quảng trường Danh vọng. Ông có lẽ mang trong mình chất Đức nhiều hơn ai hết và bằng chính cá tính cùng tài năng của mình, Kahn đã khẳng định được vị thế bản thân giữa một dãy ngân hà đầy ắp các vì tinh tú. Mạnh mẽ, quyết đoán, lãnh đạo, nhạy bén, kiên cường là những gì cơ bản nhất mà chúng ta có thể miêu tả về người gác đền Die Mannschaft một thời.

1. Sự nghiệp qua những con số

Cá nhân
  • Thủ môn xuất sắc nhất lịch sử bóng đá thế giới (IFFHS) các năm: 1999,2000, 2001, 2002, 2003, 2005
  • Thủ môn xuất sắc nhất châu Âu: 1999, 2000, 2001, 2002.
  • Quả bóng đồng châu Âu: 2001, 2002.
  • Cầu thủ Đức xuất sắc nhất: 2000, 2001.
  • Thủ môn xuất sắc nhất Bundesliga: 1994, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002.
  • Quả bóng vàng World Cup: 2002
  • Thủ môn xuất sắc nhất World Cup: 2002
Bayern Munich
  • Bundesliga : 1997, 1999, 2000, 2001, 2003, 2005, 2006, 2008
  • Cúp Quốc gia: 1998, 2000, 2003, 2005, 2006, 2008
  • Cúp Liên đoàn bóng đá Đức: 1997, 1998, 1999, 2000, 2004, 2007
  • Cúp UEFA: 1996
  • Cúp Champions League: 2001
  • Cúp liên lục địa: 2001
ĐTQG Đức
  • Vô địch Euro: 1996
  • Á quân World Cup: 2002
  • Huy chương đồng World Cup: 2006

2. Tiểu sử

Oliver Rolf Kahn sinh 15 tháng 6 năm 1969 ở Karlsruhe, là một cựu thủ môn bóng đá người Đức. Ông bắt đầu sự nghiệp tại đội trẻ của CLB Karlsruher SC, đến năm 1987 thì chính thức chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Năm 1994, Kahn tới thi đấu cho FC Bayern Munich và kết thúc sự nghiệp cầu thủ của mình tại đây vào năm 2008.

Kahn còn là một trong những thủ môn thành công nhất trong lịch sử bóng đá Đức khi giành được tám danh hiệu Bundesliga, sáu cúp quốc gia Đức, một Cup UEFA (1996), một chức vô địch UEFA Champions League và một cúp bóng đá liên lục địa (2001). Bên cạnh đó, ông còn được bầu là thủ môn xuất sắc nhất châu Âu bốn lần của UEFA, thủ môn xuất sắc nhất thế giới của IFFHS ba lần và cầu thủ xuất sắc nhất nước Đức hai lần. Trong vòng chung kết World Cup 2002, Kahn trở thành thủ môn đầu tiên và duy nhất cho đến nay chiến thắng giải quả bóng Vàng.

3. Sự nghiệp CLB

  • Karlsruher SC

Ngay từ nhỏ, Kahn đã sở hữu tình yêu với trái bóng tròn và người mà ông thần tượng chính là Sepp Maier – người trấn giữ khung gỗ và cùng Tây Đức vô địch World Cup 1974. Năm 6 tuổi, Oliver Kahn được bà mình tặng cho một bộ áo đấu có tên của Sepp Maier, và thế là con đường đến với bóng đá của ông đã bắt đầu theo cách đó. Kahn được cha định hướng gia nhập Karlsruher SC.

Kahn là một minh chứng hùng hồn nhất cho những tiêu chí lựa chọn cầu thủ trong bóng đá và ở tuổi 18, ông đã có suất trong đội hình chính của Karlsruher SC. Nổi bật nhất trong quãng thời gian 7 năm tại đội một, Kahn đã cùng đồng đội tạo lập chiến thắng 7-0 ở vòng 1/16 UEFA Cup. Báo chí Đức đã gọi trận đấu đó bằng một cái tên rất mỹ miều “Miracle at Wildparkstadion”. Tuy nhiên sau đó, Karlsruher đã thất bại tại trận bán kết trước SV Austria Salzburg.

  • Bayern Munich

Tài năng của OKahn lọt vào tầm ngắm của Bayern Munich từ lâu và họ quyết định đem ông về sân Olympic với bản hợp đồng có giá trị 2,3 triệu Euro, giúp Kahn trở thành cầu thủ chuyển nhượng cao bậc nhất tại vị trí của mình. Trong mùa 1994-95, Kahn bị dính chấn thương dây chằng chéo và phải ngồi ngoài đến 6 tháng, nhưng sau đó ông đã trở lại với màn trình diễn vô cùng ấn tượng. Một năm sau, Bayern Munich đánh bại Bordeaux 3-1 tại trận chung kết UEFA Cup. Ở giải quốc nội mùa 1996-97, Kahn giành được Đĩa Bạc, Cúp Liên đoàn và được trao danh hiệu Thủ môn xuất sắc nhất nước Đức lần thứ 2.

CLB đã quá hời khi bỏ ra số tiền 2,3 triệu Euro để tìm kiếm giải pháp thay thế cho Aumann bởi vì Kahn đóng góp nhiều hơn những gì mà “Hùm Xám” mong đợi. Năm 1999, Bayern Munich đụng độ Manchester United tại trận chung kết C1 điên rồ và Oliver Kahn cùng những người đồng đội đã thất bại đầy đau đớn trước đại diện nước Anh. Khoảnh khắc trọng tài Collina đến nhắc nhở những cái xác không hồn bên phía Bayern tiếp tục thi đấu đã trở thành cơn ám ảnh một thời gian ngắn, và ngay cả một người sắt đá như Kahn cũng đã nằm sấp mặt xuống sân cỏ khi trân đấu kết thúc.

David Beckham, Teddy Sheringham và Solskjaer đã cướp mất chiếc cúp tai to của Bayern Munich trong 3 phút cuối cùng của trận đấu. 2 năm sau, “Hùm Xám” tiến vào trận chung kết với Valencia, nơi The Titan đã đóng góp vào quá nửa công lao chiến thắng cho toàn đội bởi màn trình diễn xuất sắc đêm đó. Khi cả hai đội hòa 1-1 và kéo nhau vào loạt sút luân lưu, tại đây Kahn đã cản phá thành công đến 3 pha sút của đối phương, và Bayern Munich lên ngôi vô địch UEFA Champion League. gương mặt và bản lĩnh lạnh như thép Đức của Oliver Kahn tại San Siro đã cứu vớt cả một tập thể.

Tuy nhiên, Kahn dính chấn thương vào mùa giải 2002-03 và tại vòng knock-out đầu tiên Real Madrid gặp Bayern Munich, Roberto Carlos đánh bại Kahn bằng một cú sút phạt và khiến “Hùm Xám” bị loại khỏi cuộc chơi. Mùa giải sau đó, The Titan cùng đồng đội vô địch Bundesliga – một hành động đứng đắn để đáp trả lời lẽ quạ đen của truyền thông.

Sau khi Kahn giải nghệ, ông trở thành thủ môn có số trận giữ sạch lưới nhiều nhất Bundesliga với 197 trận, thi đấu 557 lần cho Bayern Munich. Ngày 27 tháng 5 năm 2008, khoảng 12 vạn người đã tập trung tại Salt Lake Stadium để chứng kiến thủ môn huyền thoại của Bayern Munich thi đấu trong chuyến du đấu tại châu Á của câu lạc bộ. Trong 20 năm sự nghiệp chuyên nghiệp, Kahn đã chơi cho Bayern Munich đến 14 năm, giành được 8 Đĩa Bạc, 6 cúp Quốc gia, 8 cúp Liên đoàn, 1 UEFA Cup, 1 Champion League.

4. Sự nghiệp quốc tế

Kahn được gọi vào ĐTQG Đức tham dự FIFA World Cup 1994. Ông đã xuất hiện lần đầu tiên sau 2 tháng chấn thương vào ngày 23 tháng 6 năm 1995 trong chiến thắng 2-1 trước Thụy Sĩ. Kahn chỉ là thủ môn dự bị của đội, tại đây Đức giành vô địch bóng đá châu Âu UEFA 1996 ở Anh.

Kahn đã dành suốt thời gian diễn ra giải đấu FIFA World Cup 1998 trên băng ghế dự bị, và phải đến khi Andreas Köpke tuyên bố nghỉ hưu vào cuối giải đấu, Kahn mới trở thành thủ môn chính. Hai năm sau Giải vô địch bóng đá châu Âu UEFA năm 2000,Kahn nhận được băng đội trưởng, kế nhiệm tiền đạo Oliver Bierhoff.

Ông đã trải qua một trong những màn trình diễn tồi tệ nhất trong sự nghiệp thi đấu với đội tuyển Anh ở Munich năm 2001. Mặc dù thất bại nhưng đội tuyển Đức vẫn đủ điều kiện tham dự World Cup sau khi giành chiến thắng trong trận play-off với Ukraine. Sau đó, Kahn được IFFHS bầu chọn là thủ môn xuất sắc nhất thế giới lần thứ hai trong sự nghiệp.

Bất chấp những hoài nghi của CĐV Đức khi tham dự FIFA World Cup 2002, Kahn chỉ để thủng lưới ba bàn trong suốt quá trình thi đấu và giành vé vào trận chung kết. Kahn là thủ môn duy nhất trong lịch sử World Cup giành Quả bóng vàng, và cũng trở thành thủ môn đầu tiên của Đức giữ sạch lưới 5 trận trong một giải đấu World Cup. Ông duy trì vị trí số một của mình cho Giải vô địch bóng đá châu Âu UEFA 2004, nhưng Đức một lần nữa bị loại ngay ở vòng bảng. Oliver Kahn đã trao lại băng đội trưởng của mình cho Michael Ballack sau giải đấu.

Trong suốt sự nghiệp quốc tế của mình, ông lập được 86 cú hat-trick. Dù chưa bao giờ vô địch World Cup, nhưng ông cũng đã cùng ĐTQG kết thúc với vị trí á quân năm 2002 và thứ ba năm 2006.

5. Lời kết

Siêu phẩm trong lịch sử bóng đá thế giới? Chúng ta có cú volley thần sầu của Zidane tại Champion League vào lưới Leverkusen, cú lật bàn đèn điên rồ 42m vào lưới Joe Hart của Zlatan Ibrahimovic hay pha đánh đầu đúng chất Hà Lan bay của Robin van Persie tại World Cup 2014, … Nhưng công bằng mà nói, những người tạo ra siêu phẩm nhiều nhất và thường xuyên nhất chính là những thủ thành như Oliver Kahn! Tài năng của Kahn không phải là yếu tố duy nhất làm nên bóng dáng của một huyền thoại mà phải kể thêm đến tính cách của con người đặc biệt này. Ở Đức, người ta gọi Kahn là “The Titan”, ở châu Á người ta gọi ông là King Kahn.