Ole Gunnar Solskjaer – Sát thủ có gương mặt trẻ thơ

Bóng đá thế giới từng xuất hiện những tiền đạo siêu hạng theo kiểu rất riêng biệt và có thể chia ra làm hai tuýp: hoa mỹ và thực dụng. Tuýp thứ nhất là những cái tên chỉ vừa nghe thôi đã có thể tưởng tượng ra một bầu trời quý phái như Marco van Basten, Roberto Baggio, Ronaldo hay Dimitar Berbatov. Tuýp thứ hai đại diện cho sự thực dụng và hiệu quả mà Diego Milito, Didier Drogba, Filippo Inzaghi và đặc biệt nhất có lẽ chính là Ole Gunnar Solskjaer – ‘Sát thủ có gương mặt trẻ thơ’ – không biết làm gì ngoài việc ghi bàn.

1. Sự nghiệp qua những con số

Cá nhân
  • Huân chương Hiệp sĩ St. Olav, hạng nhất
  • Giải thưởng Danh dự của Kniksen năm 2007
  • Giải thưởng Peer Gynt năm 2009
  • Giải bóng đá ngoại hạng Anh: 1996-97, 1998-99, 1999-2000, 2000-01, 2002-03, 2006-07
  • Cúp FA: 1998-99, 2003-04
  • Siêu cúp nước Anh: 1996, 1997, 2003
  • UEFA Champions League: 1998-99
  • Cúp Liên lục địa: 1999

2. Tiểu sử

Ole Gunnar Solskjær (sinh ngày 26 tháng 2 năm 1973) tại Kristiansund, Møre og Romsdal. Anh là một HLV bóng đá người Na Uy và là cựu cầu thủ bóng đá. Anh đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cho CLB Manchester United.

3. Sự nghiệp CLB

  • Sự nghiệp sớm

Solskjær xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo Clausenengen và gây ấn tượng tại Cúp Otta khi anh mới chỉ 17 tuổi với 17 bàn thắng trong 6 trận đấu. Sau đó anh gia nhập Molde vào năm 1995 và ghi được 20 bàn trong mùa giải đầu tiên ở Giải ngoại hạng Na Uy.

  • Molde

Cuối năm 1994, ngay trước thềm mùa giải mới, anh ký hợp đồng với CLB Molde. Vào ngày 22 tháng 4 năm 1995, Solskjaer lần đầu ra mắt cho Molde đối đầu với SK Brann, anh lập cú đúp trong trận thắng 6-0. Trận thứ hai của anh vào ngày 29 tháng 4, Solskjaer lập một cú hat-trick giúp Molde hạ gục Viking với tỉ số 5-4.

Anh ghi 20 bàn sau 26 lần ra sân ở mùa giải 1995. Solskjaer cùng với người bạn đồng hành, Arild Stavrum và Ole Bjørn Sundgot – tạo thành “bộ ba S nguyên tử”.

Solskjaer bắt đầu mùa giải ngoại hạng Na Uy 1996 bằng thất bại với tỉ số 0-2 trước Rosenborg. Tuy nhiên, ở trận kế tiếp vào ngày 21 tháng 4 năm 1996 gặp Moss, anh ghi một cú hat-trick giúp Molde thắng đậm với tỉ số 8-0. Solskjaer đá trận cuối cùng cho Molde vào ngày 21 tháng 7 năm 1996 trong chiến thắng 5-1 khi đối đầu với Start, anh ghi bàn thứ 4 vào phút 85, trước khi tặng chiếc áo của mình lên khán đài trước sự ăn mừng của khán giả đội nhà và được thay ra trong tràng pháo tay ăn mừng. Solskjaer rời CLB Molde với thành tích ghi 41 bàn sau 54 trận trên tất cả đấu trường.

  • Manchester United

Năm 1996, Solskjaer được Sir Alex đưa về sân Old Trafford với mức giá chỉ 1,5 triệu bảng. Thời điểm ấy, Solskjaer không thể cạnh tranh được suất đá chính với Cole và Cantona, chỉ thỉnh thoảng được vào sân thay thế khi bộ đôi này dính chấn thương hoặc được nghỉ dưỡng sức. Nhưng Solskjaer tuyên bố, anh đến Old Trafford để ghi lại dấu ấn. Quả thực, chân sút có gương mặt baby ấy đã trở thành một phần của lịch sử Man Utd theo cách rất đặc biệt: “một siêu dự bị”.

Ngay mùa đầu tiên, dù không thường xuyên có tên trong đội hình xuất phát, nhưng Solskjaer cũng ghi được tới 18 bàn tại Premier League, góp công lớn giúp Man Utd lên ngôi vô địch. Khả năng săn bàn nhạy bén ẩn sau gương mặt non choẹt, vì lẽ đó truyền thông Anh đã gọi Solskjaer là “Sát thủ có gương mặt trẻ thơ”.

Solskjær đã ghi bàn đầu tiên trong mùa giải 1997-98 trong trận hòa 2-2 với Chelsea, gỡ hòa vào phút 86 sau khi được vào sân thay thế từ băng ghế dự bị được 20 phút. Vào ngày 18 tháng 3 năm 1998, Solskjær xuất phát trong đội hình chính trong khuôn khổ lượt về vòng Tứ kết UEFA Champions League tại Old Trafford đối đấu với AS Monaco. Kết thúc mùa giải, anh chỉ ghi được 6 bàn trong 22 lần ra sân (15 lần đá chính).

Dù có các CLB lớn quan tâm đến cầu thủ trẻ này nhưng Solskjær đã quyết định ở lại Old Trafford. Ở mùa giải tiếp theo, anh đã ghi bàn 2 bàn đầu tiên trong trận thắng 4-1 trước Charlton Athletic. Vào ngày 24 tháng 01 năm 1999, MU đối đầu Liverpool trong khuôn khổ vòng 4 cúp FA. United đã bị dẫn bàn trước khi trận đấu mới diễn ra được 3 phút bởi bàn thắng của Micheal Owen và trận đấu chỉ trở về vạch xuất phát ở nửa sau hiệp hai. Sau đó, Solskjær được vào sân từ phút 81, thay cho Gary Neville, và ghi bàn quyết định ở phút 90, chỉ ít phút sau khi Dwight Yorke gỡ hòa.

Manchester United giành chức vô địch Ngoại hạng Anh ngày 16 tháng 5, ngày cuối của mùa giải, khi thắng ngược Tottenham Hotspur với tỉ số 2-1. Anh xuất phát trong đội hình chính ở trận chung kết cúp FA 1999 và chơi trọn vẹn 90 phút của trận đấu trước Newcastle. Chung cuộc United thắng với tỉ số 2-0 và hoàn tất cú ăn đúp quốc nội là Premier League và FA Cup. Sau đó, MU chạm trán Hùm xám Bayern Munich trong trận chung kết UEFA Champions League 1999 tại sân Nou Camp. Anh ghi bàn thắng quyết định vào phút bù giờ cuối cùng giúp Qủy đỏ giành cú ăn ba lịch sử và Solskjær kết thúc mùa giải với 12 bàn trong 19 trận ra sân (có 9 lần ra sân chính).

Trong mùa giải tiếp theo, Solskjær vô địch cúp Liên lục địa cùng Manchester United, sau khi hạ gục CLB Brazil Palmeiras với tỉ số 1-0 tại SVĐ quốc gia Nhật Bản, Tokyo. Vào ngày 1 tháng 4 năm 2000, MU vô địch Ngoại Hạng Anh sau khi có chiến thắng 7-1 trước West Ham và chính Solskjær là người ghi bàn thứ 7 cho Quỷ đỏ ở phút thứ 73. Sau đó, Solskjær có mặt trong đội hình xuất phát ở trận lượt về tứ kết UEFA Champions League trước Real Madrid, nhưng thất bại trong việc ghi bàn và chung cuộc United bị loại khỏi giải sau tổng tỉ số 2-3. Kết thúc mùa giải 1999-2000, anh ghi được 12 bàn sau 28 lần ra sân (15 lần đá chính).

Mùa giải 2000-01, Manchester United vô địch danh hiệu Ngoại hạng Anh vào tháng tư – đây là lần thứ ba liên tiếp của đội chủ sân Old Trafford, và là lần thứ tư Solskjær ẵm chiếc cúp. Solskjær ghi được 10 bàn trong mùa giải này sau 31 lần ra sân (19 lần đá chính).

Trong mùa bóng 2001-02, anh không còn ngồi ở ghế dự bị nữa mà ra sân ngay từ đầu mùa giải đá cặp với Ruud van Nistelrooy. Ngày 8 tháng 5 năm 2002, anh có mặt trong đội hình chính khi MU chạm trán với Arsenal nhưng không thể xuyên thủng mảnh lưới đối phương, các ‘Pháo thủ’ hạ United với tỉ số 1-0 ngay trên sân Old Trafford và vô địch Ngoại hạng Anh. Cuối cùng, anh đã ghi được 17 bàn sau 30 lần ra sân trong đó có 23 trận đá chính. Có lễ đây là mùa giải Solskjær ghi bàn nhiều nhất kể từ khi gia nhập MU.

Trong mùa giải tiếp theo, anh ghi bàn thắng quyết định cho CLB vào lưới West Bromwich Albion ở phút thứ 78. Đây cũng là bàn thắng thứ 100 của anh trong mọi đấu trường. Solskjær đã chứng minh mình là một cầu thủ có thể đá rộng sang hai biên khi ghi được tổng cộng 16 bàn thắng trong mùa giải. Sau đó anh cũng được giao băng đội trưởng đội trong một số trận đấu.

Ở mùa giải 2003-04, Solskjær là cầu thủ chạy cánh phải số một của United. Tuy nhiên, một chấn thương đầu gối trong trận đấu với Panathinaikos đã khiến tiền đạo người Na Uy ngồi ngoài xem đồng đội thi đấu ròng rã cho đến tháng 2 năm 2004. Anh đã buộc phải trải qua phẫu thuật đầu gối và phải bỏ lỡ hoàn toàn mùa giải 2004-05.

Khi Solskjær đã hồi phục thể lực của mình thì lúc đó anh đã ở độ tuổi khó khăn cho sự nghiệp cầu thủ – 32 và trở thành gánh nặng trong những đợt tấn công của United, đa phần anh ra sân từ băng ghế dự bị. Tuy nhiên với những gì anh đã làm được cho United, người hâm mộ đã dán những tấm biểu ngữ trên khán đài Stretford End của sân Old Trafford với dòng chữ: “20 LEGEND”

Vào ngày 23 tháng 8 năm 2006, Solskjær trở lại thi đấu tại Premiership và ghi bàn trong trận gặp Charlton Athletic, bàn thắng đầu tiên của anh tại giải Ngoại hạng Anh kể từ tháng 4 năm 2003. Cuối mùa giải 2006-07, Solskjaer nói lời chia tay với Manchester United sau hơn một thập kỷ cống hiến, ghi 237 bàn thắng trong 386 trận đấu, giành 6 Premier League, 2 FA Cup, 1 Champion League và 1 Cúp Liên lục địa.

Vào ngày 2 tháng 8 năm 2008, Solskjær được BGĐ M.U tổ chức một trận đấu chia tay tại sân Old Trafford với CLB Espanyol của Tây Ban Nha. Hơn 68.000 người hâm mộ đã có mặt xem trân đấu cuối cùng của thần tượng trong tim mình.

Solskjær xuất hiện ở phút 68, thay thế Carlos Tévez, tuy nhiên anh đã không thể có bàn thắng chia tay 70 ngàn khán giả tới sân Old Trafford, tiền đạo người Na Uy đã có 2 cơ hội ghi bàn song gánh nặng tuổi tác đã khiến anh không thể thắng được thủ môn đối phương.

4. Sự nghiệp quốc tế

Solskjær xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo ĐTQG Na Uy ở một trận giao hữu với Jamaica vào ngày 26 tháng 11 năm 1995. Trận đấu kết thúc với trận hòa 1-1 và anh ghi bàn duy nhất cho Na Uy. Solskjær tiếp tục phong độ ghi bàn tuyệt vời của mình bằng việc ghi được 3 bàn thắng trong lần đầu tiên được gọi lên đội tuyển trong vòng loại World Cup 1998.

Solskjær đã chơi cả hai giải FIFA World Cup 1998 và Euro 2000 cho Na Uy. Tuy nhiên, sau thời gian dài của ngồi ngoài vì chấn thương, anh đã trở lại trong một trận đấu vào ngày 02 tháng 9 năm 2006 và ghi thắng bàn đầu tiên trong trận thắng 4-1 với Hungary ở vòng loại Euro 2008. Đó cũng là lần cuối cùng Solskjær ghi bàn cho Na Uy và tổng cộng anh có 23 bàn thắng trên đấu trường quốc tế, kết thúc 67 lần ra sân.

5. Lời kết

Ole Gunnar Solskjaer đã trở thành một trong những cái tên bất tử tại Old Trafford, và nếu ai từng đọc qua tác phẩm “Thiên thần và Ác quỷ” của Dan Brown sẽ nhớ câu nói nổi tiếng của nhân vật Kohler: “Khi nào người ta còn nhắc đến tên ngươi, thì ngươi sẽ còn sống mãi.”

Bài viết cùng chuyên mục